Năm 2005, 2006 báo chí nói đến chợ chiều, chợ xẩm tối ở TP. Hồ Chí Minh, họp vào cuối ngày để tiêu thụ nốt những thực phẩm kém chất lượng còn ế đọng như thịt cá đã ôi thiu, giá bán chỉ bằng non nửa buổi sáng khi còn tươi ngon. Người đến chợ cuối ngày chiếm số đông là công nhân, lao động các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX). Lương họ chỉ khoảng 3 triệu đồng/tháng, đủ nuôi thân ở mức tối thiểu nhưng phần lớn lại từ nông thôn di cư về thành phố, lương còn phải bớt một phần gửi về quê nuôi con, có người còn nuôi bố mẹ và một phần lương nữa để thuê chỗ ở trọ.
Nhiều công nhân phải tăng ca, làm thêm nhiều việc khác nhưng cuộc sống vẫn vô cùng khó khăn Ảnh: Hoàng Long Họ lao động cực nhọc, mệt mỏi hầu như người nào cũng làm thêm hai hoặc ba giờ nữa để tăng thu nhập nên càng đuối sức, rất thèm được bồi dưỡng thịt cá nhưng đồng lương còm cõi. Sau năm 2008, 2009, lạm phát cao hơn trước, lương tăng không theo kịp giá các nhu yếu phẩm tăng phi mã, công nhân lao động càng khó có đủ tiền. Bữa cơm chỉ còn rau, đậu, trứng là cùng. Ăn đã "bóp mồm bóp miệng”, chỗ ở nhà trọ chung nhau vô cùng chật chội, mất vệ sinh nhưng cũng không thể ở rộng hơn vì tiền ăn còn không đủ. Năm 2003, cuộc điều tra, nghiên cứu những người cùng khổ, cực nghèo (dưới mức nghèo) ở Việt Nam do Cơ quan cứu trợ Anh vùng châu Á và Viện kinh tế ta tổ chức. Theo đó, cùng khổ, cực nghèo còn được gọi là "hộ đói kinh niên” là những hộ đạt chuẩn như sau: 1 - Ăn chỉ có chất bột không bao giờ no vì thiếu chất dinh dưỡng (thịt, cá) đảm bảo sức khỏe để tái sản xuất sức lao động. 2. Chỗ ở tồi tàn, rách nát. 3. Không có tài sản đáng giá để ứng phó với các tai biến của cuộc sống. Đông đảo công nhân, lao động ta đã đạt chuẩn "hộ đói kinh niên”. Cả nước có 170 KCN và KCX gồm 1,6 triệu công nhân làm ra hàng xuất khẩu để thu ngoại tệ. Chỉ riêng hai ngành Dệt may và Da giày năm 2011 đã thu về hơn 20 tỷ USD, đến năm 2013 thu về còn cao hơn nhưng đời sống công nhân lao động vẫn khổ. Viện Công nhân – Công đoàn (thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) năm 2012 tổ chức cuộc khảo sát về đời sống công nhân, lao động ở 90 doanh nghiệp trên cả nước thuộc các ngành dệt may, da giày, chế biến, giao thông vận tải, dịch vụ thương mại, cơ khí. Kết quả đáng kinh ngạc: Lương tối thiểu của người công nhân chỉ còn đảm bảo 60% mức lương tối thiểu. Lương thấp đến như vậy bắt buộc công nhân phải tăng ca, làm thêm mỗi ngày hai, ba giờ nữa mới có đủ tiền chi tiêu dè sẻn nhất. Số công nhân phải làm thêm, cao nhất những năm qua, tới hơn 94%. Có doanh nghiệp công nhân làm thêm tới hơn 600 giờ mỗi năm, tức là vượt mức cho phép ba lần. Nhưng vẫn không sống được ở mức không thể thấp hơn, món ăn "cao cấp” của gia đình chỉ còn là trứng, đậu. Công nhân thường xuyên đói, làm việc rất chóng mệt. Suy dinh dưỡng trong công nhân ở mức báo động, nhiều nữ công nhân mang thai thiếu máu, hiện tượng "đang làm ngất xỉu” nhiều hơn trước. Số công nhân bỏ nhà máy 5 tháng đầu năm 2012 chiếm số đông chưa từng thấy. Chỉ riêng TP. Hồ Chí Minh có hơn 20% công nhân bỏ việc, trong đó KCN và KCX con số bỏ việc là 25.000. Tình trạng đói trong công nhân dẫn đến những hậu quả đau lòng như báo "Tiếp thị Saigon” ngày 23-5-2012 có bài "Tạm bợ đời thợ”. Xin trích. "… Hồi tháng trước có một công nhân bị máy cắt cụt ba ngón tay, còn lại ngón trỏ và cái. Hai người trước bị thương đã lâu đều cụt hết bốn ngón. Đây là tai nạn nặng, còn dập tay hay dăm gỗ, vít cắm vào người là chuyện thường. Hỏi thêm mới biết các máy cắt, khoan đều an toàn nhưng tai nạn vẫn xảy ra do công nhân gây ra. Liên tưởng đến những bữa ăn mà năng lượng nạp vào không tương xứng với sức bỏ ra và những cơn đói cuối buổi của người công nhân nơi đây mới hiểu tại sao tai nạn lại dễ xảy ra: đói mờ mắt làm sao tập trung. Năm phút trước tan ca đứng lùi lại chút để nhìn rõ hơn cái công xưởng nơi gần một trăm con người đang nhấp nhổm chờ còi mới thấy rõ cái vẻ tiều tụy, kết quả của những tháng ngày đói ăn, khát uống, ở mất vệ sinh. Tất cả có một điểm chung là màu da xam xám, dấu hiệu của bệnh hô hấp và những bàn chân gân guốc, to bè vì đứng nhiều…”. Ba ngày sau bài báo trên, ngày 26-5-2012, tại Hà Nội, báo Hà Nội mới đã có bài về đời sống quá nghèo nàn của công nhân khu công nghiệp Thăng Long, qua gia đình anh Nam và chị Mơ làm công nhân 3 năm tại Công ty Nisci. Lương tháng hai vợ chồng và hai con không những không tháng nào đủ ăn, đôi khi cả nhà ăn cháo cả tuần lễ chờ có lương mới. Hai vợ chồng đã bàn đưa vợ và hai con về quê ở tỉnh Tuyên Quang còn chồng tiếp tục ở lại làm công nhân. Nhà ở cho công nhân và nhà trẻ, lớp mẫu giáo để chăm sóc con công nhân đã có quyết định của Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố. Có nhà ở và nơi trông con, khi đi làm công nhân đỡ khổ rất nhiều nhưng các công trình này xây dựng rất chậm, khi thì kêu thiếu đất, khi thì kêu thiếu tiền. Song nguyên nhân đích thực là, các nhà đầu tư rất ngần ngại xây dựng nhà cho công nhân vì không hấp dẫn về lợi nhuận. Về việc xây nhà cho công nhân, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng nhìn nhận một thực tế: "Sau hai năm triển khai cả nước có 27 dự án được khởi công với tổng vốn đầu tư khoảng 3.000 tỷ đồng, giải quyết chỗ ở cho khoảng 140.000 công nhân song chỉ mới có một dự án được ký hợp đồng tín dụng ưu đãi của Chính phủ. Việc xây dựng nhà ở cho công nhân chưa đạt mục tiêu đề ra”. Có cơ quan đầu tư xây dựng trụ sở mới 12.000 tỷ đồng. Nếu với 3.000 tỷ đồng có thể giải quyết chỗ ở cho 140.000 công nhân thì tiền xây dựng trụ sở này có thể giải quyết chỗ ở cho nửa triệu công nhân. Một số tập đoàn, tổng công ty làm ăn thua lỗ, nợ nần vẫn xây trụ sở rất tốn kém, bằng tiền xây dựng hàng chục nghìn căn nhà. Chỉ riêng tập đoàn Vinashin nợ không thanh toán được đủ xây 214.000 phòng học (cả nước có 11.000 xã) hoặc thừa sức xây nhà cho 1,6 triệu công nhân, lao động KCN và KCX cả nước. Ngân sách Nhà nước có tiền để trả lương cho công nhân đủ sống ở mức tối thiểu, đủ tiền để xây nhà cho công nhân nhưng các bộ, ngành, các doanh nghiệp nhà nước đã xây nhiều công trình chưa cần thiết trong khi nhiều công nhân phải lao động hơn 10 tiếng đồng hồ đến kiệt sức vẫn không nuôi được con phải đưa về quê chỉ vì chưa xây được nhà trẻ, lớp mẫu giáo. Lãng phí ngân sách tràn lan vì lãng phí kéo theo tham nhũng. Báo cáo của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch & Đầu tư Bùi Quang Vinh tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII cuối năm 2013 là lời báo động khẩn thiết về lãng phí ngân sách. "Địa phương nào cũng có dự án xây dựng bất cần dự án ấy có cần thiết hay không? Có không ít dự án đầu tư vượt nhiều lần khả năng sử dụng, vẽ đường cho lớn ra, vẽ cầu cho to ra, vẽ cảng biển, sân bay cho hoành tráng ra. Ông có trụ sở như cung điện thì tôi cũng xây cung điện làm trụ sở. Cả nước cùng kịch bản như nhau dẫn đến nợ đọng xây dựng cơ bản lên đến 42.000 tỷ đồng. Địa phương thiếu vốn nợ doanh nghiệp, doanh nghiệp nợ ngân hàng, cả một hệ thống kinh tế bị các dự án xây dựng "thừa giấy làm gì chẳng vẽ voi bắt làm con tin. Có dự án dở dang, có dự án làm xong để đấy, có dự án nhỏ lại làm rất lớn”. Bộ trưởng nói đến một sự việc lãng phí cụ thể: "Một người mới lên làm chủ tịch tỉnh muốn để lại dấu ấn cho nhiệm kỳ của mình nên phải làm đại lộ xuyên qua thành phố hoành tráng, phải giải phóng mặt bằng, đập phá biết bao nhà cửa, riêng tiền giải phóng mặt bằng đã phải chi mấy ngàn tỷ đồng nhưng làm đường chỉ mất có trăm tỷ đồng”. Chỉ một đoạn báo cáo ngắn tập trung bao nhiêu vụ lãng phí lớn tiền ngân sách nhưng không thấy xử lý ai kể cả ông chủ tịch tỉnh đã "đốt” mấy nghìn tỷ đồng. Nghe xong, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phải thốt lên: "Bao nhiêu công trình lãng phí lộ ra đấy mà chẳng thấy ai bị xử lý, nhìn thấy đấy mà không ai chịu trách nhiệm”. THÁI DUY |